Tuesday, September 9, 2014

Thương mại điện tử tại Việt Nam vẫn đang trên đà phát triển với mức tăng trưởng doanh thu hàng năm rất ấn tượng. Cùng với sự phát triển của công nghệ, tích hợp thêm các kênh bán hàng trực tuyến (TMĐT) và cho ra đời siêu thị online là xu thế tất yếu để các nhà các bán lẻ gia tăng thêm khả năng cạnh tranh và thu hút khách hàng.

Đưa siêu thị lên online, khó hay dễ ?
E-grocery (siêu thị online) là một nhánh của TMĐT nhưng phức tạp hơn rất nhiều do mang đặc thù của ngành hàng siêu thị, bao gồm các mặt hàng tiêu dùng nhanh – FMCG (chủ yếu là các nhu yếu phẩm và thực phẩm tươi sống). Trong ngành kinh doanh siêu thị, việc đàm phán với các nhà cung ứng về mức chiết khấu, cũng như các vấn đề thanh khoản, ghi nợ là rất quan trọng.

Hạn sử dụng của các mặt hàng tiêu dùng (đặc biệt là các thực phẩm tươi sống) thường rất ngắn nên khâu quản lý vận hành (như trữ hàng và giao nhận) phức tạp và tốn rất nhiều chi phí. Đồng thời, đặc thù các mặt hàng tiêu dùng phổ thông là cạnh tranh về giá nên các doanh nghiệp phải giữ giá để không bị đẩy lên quá cao và dẫn đến việc lợi nhuận biên thấp.

Trước sự cạnh tranh của các siêu thị truyền thống, cộng với sự phức tạp của quản lý vận hành khiến cho các siêu thị online khó khăn trong việc mở rộng quy mô.

Trước những rào cản kể trên, có thể dễ dàng nhận thấy, e-grocery không phải là sân chơi cho những doanh nghiệp non trẻ. Với hệ thống quản lý và giao nhận hàng sẵn có, các doanh nghiệp kinh doanh siêu thị truyền thống đang muốn lấn sân sang TMĐT sẽ có nhiều lợi thế hơn.

Cùng nhìn qua thị trường kinh doanh siêu thị Singapore và trường hợp của Cold Storage – một doanh nghiệp tiên phong đón đầu xu hướng TMĐT và hiện đang dẫn đầu trong thị trường bán lẻ của Singapore.



Cold Storage là chuỗi hệ thống siêu thị lớn thứ nhì Singapore (sau NTUC FairPrice), được sở hữu bởi Dairy Farm International Holdings. Cold Storage đã mở kênh online đầu tiên ở Singapore vào năm 1997, thống trị thị trường e-grocery của Singapore gần một thập kỷ qua, với lượng khách mua hàng trực tuyến thường xuyên là 6.000 người vào năm 1998, và tăng lên đến hơn 15.000 người vào năm 2012. Hiện nay, tại Singapore, các ông lớn bán lẻ khác như NTUC FairPrice, E-mart, econ Minimart ... cũng đã phát triển trang TMĐT, nhưng chỉ có Cold Storage và E-mart bán các mặt hàng thực phẩm tươi sống, rau quả, trái cây trên hệ thống trực tuyến.

Đối với các siêu thị như Cold Storage, NTUC FairPrice, E-mart, hay econ Minimart... e-grocery chỉ là một kênh phân phối. Trong khi đó, Redmart là một startup được thành lập vào năm 2011 và chỉ hoạt động online. Sau 3 năm thành lập, Redmart đã đạt được nhiều thành công đáng kể và trở thành đối thủ nặng kí của các siêu thị offline lớn của Singapore, và hiện cũng đang là đối thủ trực tiếp của Cold Storage. Ngày 14/7/2014, Redmart nhận được 23 triệu USD trong vòng đầu tư series B, nâng tổng số vốn đầu tư lên 28,4 triệu USD. Mỗi đơn hàng của Redmart trung bình từ 10 đến 20 món hàng, hơn gấp đôi so với những trang TMĐT thông thường. Với khoảng 200 nhân sự, doanh thu của Redmart đang tăng đều 20% mỗi tháng từ ngày ra mắt, con số chính xác không được tiết lộ.



Tiềm năng thị trường e-grocery tại Việt Nam
Theo báo cáo về "Mức độ sôi động của các thị trường bán lẻ khu vực châu Á – Thái Bình Dương 2014″ do CBRE công bố, Việt Nam là một trong những thị trường bán lẻ tiềm năng được đánh giá cao vào bậc nhất khu vực do cơ cấu dân số trẻ và sức mua ngày càng được cải thiện nhờ số lượng tầng lớp trung lưu đang tăng mạnh.

Năm 2015, theo cam kết WTO, các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài sẽ được đầu tư với số vốn 100% tại Việt Nam (hiện tại 50%). Điều này khiến cho mức độ cạnh tranh trong thị trường bán lẻ Việt Nam sẽ còn sôi động hơn nữa trong thời gian sắp tới.

Ông Nguyễn Thanh Hưng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam, nhận định mua bán trực tuyến sẽ là một xu thế tất yếu khi năm trang bán hàng trực tuyến hàng đầu Việt Nam luôn có lượng truy cập cao nhất so với các website khác trong khu vực.

Ts. Đinh Thị Mỹ Loan, Chủ tịch Hiệp hội Các nhà bán lẻ Việt Nam (AVR) cho rằng với sự phát triển của công nghệ và các hình thức thanh toán, bán lẻ trực tuyến nhiều khả năng sẽ bùng nổ và vì vậy, các nhà bán lẻ lớn sẽ phải tính đến chuyện kết hợp nhiều kênh khác nhau để thu hút khách hàng.



Big C đã tiên phong đưa hệ thống chuỗi siêu thị từ offline lên online với tham vọng trở thành một trong những trang TMĐT hàng đầu Việt Nam trong vòng 2 năm tới. Ngày 18/4/2014, Cdiscount.vn– trang TMĐT của Big C chính thức được đưa vào hoạt động.

Vậy cơ hội nào cho các startup Việt trong thị trường e-grocery? Điều đó phụ thuộc vào tầm nhìn của doanh nghiệp và khả năng khai thác những ngách nhỏ của thị trường này.

Tại Hà Nội có Disieuthi.vn, là sàn giao dịch TMĐT, tức là một trung gian giữa các siêu thị và khách hàng. Không tốn nguồn lực để xây dựng hệ thống kho bãi, thực hiện khâu quản lý trữ hàng, startup này chọn hướng trở thành kênh phân phối trực tuyến của các siêu thị, đồng thời cung cấp dịch vụ "đi siêu thị thuê" cho khách hàng.

Tại TP.HCM, có các startup như Beppho.com, Ilovefood.com.vn, Dichomoingay.com đang cung cấp thực phẩm tươi sống được sơ chế sẵn qua kênh online. Sau khi đã chọn món và đặt hàng trên trang web hoặc qua tổng đài, khách hàng sẽ được giao đến tận nhà những thực phẩm đã qua sơ chế (chẳng hạn như rau củ đã nhặt, rửa sạch, thịt cá đã làm sạch, tẩm ướp theo món, các gia vị đầy đủ đi kèm) và chỉ còn việc thực hiện công đoạn cuối cùng là nấu chin theo công thức đính kèm. Dịch vụ này rất phù hợp với những gia đình hiện đại, cả vợ và chồng đều bận rộn với công việc nhưng vẫn thích những bữa ăn tự nấu, chứ không muốn đi ăn ngoài. Đây cũng là một hướng đi thông minh để khai thác thị trường ngách.

Sức nóng từ thị trường bán lẻ Việt Nam
Trước áp lực mở cửa hoàn toàn vào năm 2015, các doanh nghiệp kinh doanh siêu thị nội ngoại đang gấp rút chạy đua, các thương vụ chuyển nhượng kết hợp đang được thực hiện để tranh giành thị phần và chuẩn bị cho làn sóng cạnh tranh sắp tới:

Năm 2013, "ông lớn" SaigonCo.op đã bắt tay cùng NTUC FairPrice (Singapore) đầu tư và cho ra mắt đại siêu thị Co.opXtra Plus tại Thủ Đức vừa bán lẻ vừa phân phối hàng hóa số lượng lớn. Bên cạnh đó, Saigon Co.op đang nỗ lực mở rộng hệ thống phân phối với 70 siêu thị Co.opmart trên toàn quốc và 73 cửa hàng thực phẩm tiện lợi Co.op Food đi sâu vào các khu dân cư, khu cư xá, khu công nghiệp...

Hệ thống siêu thị Citimart cũng đang củng cố hệ thống bán lẻ để đảm bảo sức cạnh tranh. Doanh nghiệp này sẽ mở thêm 70 điểm đến năm 2015, với ưu tiên trọng tâm là điểm bán có quy mô chỉ từ 1.000 – 2.000m².

Tháng 5/2014, Big C Việt Nam (thuộc tập đoàn Groupe Casino của Pháp) cũng rót khoảng 9,6 triệu USD để mở siêu thị Big C Quy Nhơn, Bình Định, siêu thị thứ 28 của hệ thống Big C toàn quốc.

Lotte Mart đã mở siêu thị đầu tiên tại Hà Nội vào tháng 3/2014 và mở tiếp cái thứ hai vào tháng 8/2014 với vốn đầu tư trên 25 triệu USD mỗi siêu thị, nâng tổng số siêu thị đang hoạt động tại Việt Nam lên tám cái.

Tập đoàn AEON (Nhật) sau khi mở một trung tâm ở quận Tân Phú, TP.HCM cũng đang gấp rút chuẩn bị khai trương Aeon Mall Bình Dương Canary với vốn đầu tư 95 triệu USD, dự kiến sẽ hoàn thành và chính thức hoạt động vào tháng 11/2014.

Sau khi thâu tóm chuỗi bán lẻ FamilyMart và đổi tên thành B's mart, tháng 8/2014, tập đoàn Berli Jucker (BJC) của tỉ phú người Thái Charoen Sirivadhanabhakdi đã mua lại toàn bộ hệ thống Metro Cash & Carry Việt Nam (thuộc Metro Group của Đức) với giá gần 879 triệu USD.
Nói về việc tiêu tiền, mặc dù Việt Nam là nước có thu nhập trung bình nhưng giới thượng lưu người Việt khi tiêu tiền vẫn không cần cân nhắc, đặt lên hạ xuống đối với những món đồ xa xỉ mà họ thích. Thậm chí, đối với tầng lớp cận thương lưu thì việc mạnh tay chi tiền vào các thương hiệu quốc tế cũng đang ngày một gia tăng

Phân tích trên góc độ tâm lý tiêu dùng của người Việt Nam từ những nhận định của Tập đoàn nghiên cứu thị trường Roy Morgan khi chỉ ra sự khác biệt lớn ở các thị trường châu Á mới nổi, trong đó có nói về việc thích xài sang, dùng hàng hiệu và chứng tỏ với mọi người về sự am hiểu thông dụng các mặt hàng này cho thấy không có tác dụng đối với việc kích sự phát triển của nền kinh tế trong nước.

Gia công toàn diện nhưng mê... hàng hiệu
Từ thực tế xu thế hiện nay nhiều người Việt Nam tại các thành phố lớn thích mua sắm tại các siêu thị, ăn đồ hiệu ăn nhanh, dùng hàng hiệu như một cách để chứng minh cho mọi người về đẳng cấp tiêu tiền đang bộc lộ những điểm bất lợi cho nền kinh tế.

Nghiên cứu của Roy Morgan chỉ rõ, Việt Nam được biết đến như là thị trường nóng nhất của Apple nhờ nhóm tiêu dùng trẻ tuổi. Doanh số của Apple đã tăng gấp ba lần trong ba tháng đầu năm 2014. Mỗi quí, doanh số của iPhone tăng gấp hai lần và tốc độ tăng này vẫn đang tiếp tục.

Theo chuyên gia kinh tế Bùi Trinh, khi tiêu dùng hàng hiệu, sử dụng các sản phẩm nhập ngoại không giúp gì cho GDP bởi vì các mặt hàng này trong nước không làm ra được mà phải nhập khẩu nên bản chất là làm giảm GDP, trong trường hợp dùng hàng sản xuất trong nước do nền kinh tế Việt Nam chủ yếu là gia công, không có công nghiệp phụ trợ nên dùng hàng trong nước thực ra cũng chỉ kích thích nhập khẩu nguyên vật liệu từ nước ngoài.

Số liệu thống kê cho thấy 60% nhập khẩu là cho nguyên vật liệu cho sản xuất, khoảng 30% là máy móc thiết bị, chỉ khoảng xấp xỉ 10% là cho tiêu dùng.

Như vậy có thể thấy càng kích cầu tiêu dùng theo dưới bất kỳ hình thức nào chỉ kích thích nhập khẩu bởi thực tế số doanh nghiệp sản xuất trực tiếp trong nước quá ít và cơ bản là sản xuất gia công, chủ yếu là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) chiếm lĩnh từ khâu sản xuất đến phân phối tiêu dùng. “Kích tiêu dùng bất cứ hình thức nào cũng đều sai vì kể cả hàng trong nước thì cũng là hàng gia công, là một hình thức nhập khẩu trá hình”, ông Trinh nhận định.

Theo số liệu của Tổng cục Thông kê 2012 về thu nhập bình quân đầu khoảng 2 triệu đồng tháng có thể thấy rằng với cách chi tiêu và tâm lý tiêu dùng thích xài sang là không tương xứng, điều này cho thấy sự phân cách biệt thu nhập giữa các nhóm dân cư là khá lớn.

“Có những người vay mượn để mua xe ô tô trong khi thực chất nhu cầu không cần thiết đến mức đó. Cứ nói Việt Nam là nước đang phát triển nhưng cứ nhìn những thương hiệu xe nổi tiếng, đời mới, điện thoại cao cấp vừa ra đời là xuất hiện nhan nhản trên đường phố của chúng ta thì đủ thấy sự “chịu chơi” tới cỡ nào”, ông Trinh ví dụ.

Theo ông Trinh, hiện nền kinh tế của Việt Nam là gia công toàn diện, ăn sổi mà hô hào kích cầu thì càng ăn sổi hơn. Khi đó càng đẩy kinh tế đi vào khó khăn hơn.
Tâm lý tiêu dùng của nhiều người Việt hiện đang không giúp ích cho nền kinh tế 

Tiền ở đâu ra?
Lý giải sự dịch chuyển của dòng tiền ông Trinh cho rằng: Thứ nhất là từ vay mượn, thứ hai là bán tài nguyên thô và thứ ba là bán rẻ sức lao động.

Dẫn ví dụ từ hàng triệu công nhân ở Bình Dương, ông Trinh cho biết: với mức thu nhập của công nhân ở đây chỉ 2-3 triệu đồng/tháng, lương không đủ ăn. Trong khi đó tiền thuế (gián thu và trực thu) mà các doanh nghiệp phải nộp ngân sách cũng chính là tiền của người dân và người lao động đóng góp trực tiếp hoặc gián tiếp. Rồi tiền đó lại được phân phối tiếp và sẽ chỉ có một nhóm người có thu nhập cao từ quá trình phân phối lại này.

“Như vậy sẽ chỉ có nhóm người được hưởng các dịch vụ, sản phẩm xa xỉ còn những người dân bình thường, người lao động không ai có tiền vào những nơi bán hàng hiệu hay siêu thị. Người nông dân và công nhân thì quá khổ sở rồi. Thu nhập của nhóm dân cư này được hưởng lợi trong quá trình phân phối lại thu nhập. Phải chăng đây cũng là vấn đề cần cấu trúc lại?”, ông Trinh phân tích.

Ý niệm lấy thuế của người nghèo phục vụ cho người giàu có thể dễ hiểu hơn khi nhìn nhận từ các doanh nghiệp FDI được ưu đãi đủ thứ đất đai, tín dụng… Thuế là công cụ duy nhất để thể hiện phần trách nhiệm của doanh nghiệp của các doanh nghiệp đối với địa phương thì lại được miễn hoặc họ tìm cách trốn thuế.

“Các doanh nghiệp trong nước thì khó khăn đến bước đường cùng rồi nhưng vẫn tận thu. Các loại thuế, phí như thời gian vừa qua sẽ khiến họ nản, làm cầm chừng và không cón động cơ để đầu tư mở rộng sản xuất, dần dần sẽ chỉ còn doanh nghiệp FDI chiếm lĩnh”, ông Trinh cảnh báo.

Monday, September 8, 2014

Là một trong những website phổ biến nhất tại Nga, Yandex được biết đến như một nhà cung cấp đa dịch vụ với nhiều tiện ích hỗ trợ cho cộng đồng người sử dụng tiếng Nga

Yandex là số 1
Google hiện đang thống trị mảng tìm kiếm internet trên toàn thế giới nhưng vẫn có vài nơi là trường hợp ngoại lệ. Không chỉ "sa lầy" ở Trung Quốc mà hãng tìm kiếm số 1 thế giới cũng đang chật vật tìm chỗ đứng tại Nga, thị trường công nghệ được đánh giá là màu mỡ hàng đầu hiện nay.

Ở thời điểm hiện tại, thị trường tìm kiếm Nga đang bị chi phối mạnh mẽ bởi Yandex, công ty công nghệ này có hầu hết các dịch vụ chủ lực mà Google hiện có, từ tìm kiếm, mua sắm online, mạng xã hội và cả dịch vụ đám mây.

 

Mặc dù Yandex không phải là cái tên quen thuộc ngoài biên giới Nga và các nước thuộc liên bang Xô Viết cũ nhưng với việc thống trị thị trường này cũng đồng nghĩa với việc Yandex đang là "vua" của thị trường internet lớn nhất châu Âu nếu xét về lượng người sử dụng.

Hiện nay, Yandex đang tỏ ra không hề kém cạnh so với Google khi hãng sở hữu một trình duyệt nhằm đối chọi với Chrome và kho ứng dụng Android riêng biệt. 

Không những thế Yandex còn hợp tác với kẻ "tử thù" của Google là Apple trong lĩnh vực bản đồ trực tuyến.

Nga đồng nghĩa với khác biệt
Tại quốc gia này, các trang web được truy cập nhiều nhất không phải là Facebook, Google, YouTube, Yahoo hay Wikipedia mà chỉ có duy nhất một cái tên bản địa là Yandex. Với việc đứng đầu mảng tìm kiếm tại Nga đã giúp Yandex gần như thống lĩnh toàn bộ các mảng trực tuyến khác tại đất nước này.

Nếu như hiện tại Google đang chiếm tới 3/4 thị trường tìm kiếm trên toàn thế giới thì tại Nga tình thế lại hoàn toàn đảo ngược. Google chỉ có được 27% thị phần trong khi đó ngôi vị số 1 lại thuộc về Yandex với 68%. 

Tuy nhiên để đạt được con số trên, Google đã phải nhờ tới sự trợ giúp đáng kể của Chrome, một trong số những trình duyệt hiện được ưa chuộng hàng đầu tại đây.

Yandex tỏ rõ sự vượt trội tại Nga (Ảnh internet) 

Để hiểu rõ hơn về bước đường thành công của Yandex, cần quay lại năm 1990, thời điểm mà 2 nhà toán học Arkady Volozh và Arkady Borkovsky đặt nền móng đầu tiên cho dịch vụ tìm kiếm số 1 nước Nga ngày nay.

Việc tham gia mảng tìm kiếm cũng khá tình cờ khi ban đầu 2 "chàng" Arkady chỉ có ý định tạo ra một phần mềm dạng MS-DOS giúp phân loại bằng sáng chế và các loại hàng hóa. Tuy nhiên phần mềm lại có nhiều đặc trưng của một công cụ tìm kiếm hỗ trợ rất tốt ngôn ngữ của Nga và đây cũng chính là nền tảng đã tạo nền một Yandex hùng mạnh hiện nay.

Sau một thời gian dài nghiên cứu và phát triển, tới năm 1997, dưới sự bảo trợ của Comptek, nơi mà Arkady Volozh đang là giám đốc điều hành, cổng thông tin tìm kiếm yandex.ru đã chính thức ra đời. Đến năm 2000, nhận thấy tiềm năng lớn của Yandex, Arkady Volozh đã rời bỏ Comptek và mang theo dịch vụ này để phát triển thành công ty riêng.

Như vậy, nếu xét về thời điểm ra đời, Yandex còn xuất hiện trước cả Google và cũng tại lúc đó Yahoo mới chỉ là kẻ "ăn bám" khi là nơi hiển thị các kết quả tìm kiếm cho AltaVista.

Điểm mạnh nhất của Yandex là dịch vụ này thực hiện cực kỳ tốt khả năng tìm kiếm trong phạm vi tiếng Nga, thứ ngôn ngữ được giới công nghệ đánh giá là rất phức tạp. Các thuật toán tìm kiếm của Yandex có thể nói là vượt trội so với Google.

Cách sắp xếp các kết quả tìm kiếm của Yandex cũng khá ưu việt với công nghệ có tên gọi MatrixNet. Theo đó các kết quả trả lại cho người dùng sẽ được dựa trên nhiều yếu tố, từ tầm quan trọng hoặc thứ tự ưu tiên của thông tin cho đến thói quen của người dùng.

Vào năm 2010, Yandex cũng đưa ra khả năng tìm kiếm thời gian thực khi dữ liệu trên báo điện tử, mạng xã hội ... được cập nhật liên tục nhằm cung cấp cho người dùng thông tin nhanh chóng và đầy đủ hơn. Xét về tính năng này, Yandex được cho là hơn hẳn Google một bậc trong phạm vi ngôn ngữ Nga.

Vị thế thống trị của Yandex tại thị trường Nga có thể thấy rõ nét nhất qua khía cạnh doanh thu, năm 2012, công ty này đạt 955 triệu USD, tăng 44% so với năm 2011. Qua đó đưa Yandex trở thành doanh nghiệp internet thành công nhất tại Nga trong năm qua.

Trên bình diện quốc tế, trong năm 2012, theo thống kê của comScore, Yandex đã chính thức vượt qua Bing của Microsoft để trở thành dịch vụ tìm kiếm đứng thứ 4 trên thế giới.

"Chèn ép" Google trên mọi phương diện
Không chỉ vượt trội so với Google trong lĩnh vực tìm kiếm, Yandex còn tỏ ra nổi bật hơn hẳn trong các mảng trực tuyến khác trên sân nhà.

Nếu Google sử dụng trình duyệt Chrome như một công cụ chính nhằm đánh chiếm thị trường Nga thì Yandex cũng có "lá chắn" hữu hiệu là Yandex.Browser. Đáng ngạc nhiên là mặc dù được xây dựng trên nền mã nguồn mở Chromium của Google nhưng hiện Yandex.Browser lại là chương trình duyệt web được ưa chuộng nhất tại Nga.

Không những thế trình duyệt này được tích hợp rất sâu chức năng tìm kiếm của Yandex cùng độ bảo mật cao được đảm bảo bởi Kaspserksy, công ty bảo mật Nga hàng đầu thế giới.

Yandex.Store hiện có hơn 50.000 ứng dụng dành cho các thiết bị Android (Ảnh internet) 

Mặt khác nếu kho ứng dụng GooglePlay là một điểm cộng lớn của Google trên thị trường điện thoại di động thì Yandex cũng có kho ứng dụng Android của riêng mình nhằm đáp trả. Yandex.Store hiện có hơn 50.000 ứng dụng, hầu hết trong số này đều kết nối hoặc hỗ trợ trực tiếp các dịch vụ mà Yandex sở hữu.

Không chỉ có thế Yandex còn lên kế bắt tay với đối thủ chính của Google hiện nay là Apple nhằm đẩy mạnh dịch vụ bản đồ đến với người dùng của hãng này. Theo đó Yandex sẽ cung cấp dữ liệu bản đồ của Nga cũng như một số nước khác mà mình có để Apple đưa vào hệ điều hành iOS trong tương lai của mình.

Đây thực sự là một đòn giáng mạnh vào tham vọng của Google nếu biết cách đây không lâu Apple đã loại bỏ GoogleMaps khỏi danh sách những dịch vụ mặc định trên các thiết bị của mình như iphone, ipad.

Chưa dừng lại trong biên giới nước Nga, Yandex còn tấn công vào những thị trường mà Google hiện đang bỏ ngỏ như Belarus, Kazakhstan hay Ukraine hoặc những nơi mà Google hiện đang là số 1 như Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 2011.

Trên toàn cầu, Yandex có thể chưa là mối đe dọa thực sự dành cho Google, nhưng những gì đã diễn ra ở Nga hiện là một bài học đắt giá cho hãng này. Hiện Google vẫn là số 1 trong lĩnh vực tìm kiếm nhưng ở các thị trường riêng biệt sẽ không thiếu những câu chuyện thần kỳ như Yandex, Baidu của Trung Quốc hay Naver của Hàn Quốc.

Monday, August 18, 2014

1) Tìm hiểu khái niệm căn bản
Marketing nội bộ là một khái niệm khá quen thuộc với các tổ chức, doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp dịch vụ trên thế giới. Tuy nhiên khái niệm này vẫn còn rất mới mẻ với đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam. Để hiểu rõ marketing nội là gì, trước hết chúng ta sẽ xem xét mối số khái niệm về marketing nội bộ đã được các nhà kinh tế trên thế giới nghiên cứu và đưa ra.

"...Nhìn nhận nhân viên như khách hàng nội bộ, nhìn nhận công việc như sản phẩm nội bộ. Từ đó thỏa mãn nhu cầu, ước muốn của những khách hàng nội bộ trong quá trình thực hiện mục tiêu của tổ chức. Đó là cốt lõi của marketing nội bộ " (Berry, 1984)

"Marketing nội bộ là một quá trình thu hút, phát triển, tạo động lực và giữ gìn những nhân viên có chất lượng thông qua thỏa mãn nhu cầu của họ. Marketing nội bộ là triết lý coi nhân viên như khách hàng..." (Berry & Parasuraman, 1991)

"Marketing nội bộ nghĩa là áp dụng những triết lý của và hành động của marketing cho những nhân viên phục vụ khách hàng của doanh nghiệp. Những nhân viên tốt nhất sẽ được lựa chọn, giữ lại và họ sẽ tạo ra sản phẩm, dịch vụ, sẽ làm việc tốt nhất có thể" (The Foudations of Internal Marketing, 1993)

"Marketing nội bộ là chiến lược phát triển mối quan hệ giữa các nhân viên trong nội bộ tổ chức. Khi áp dụng chiến lược này, nhân viên có những quyền hạn nhất định và họ biết cách kết hợp để tạo ra và lưu hành những nhận thức mới về tổ chức. Những nhận thức này sẽ tạo nên thách thức đối với những hoạt động nội bộ cần phải được thay đổi để thích ứng với chất lượng của những mối liên hệ trên thị trường" (Ballantyne, 2000)

Như vậy marketing nội bộ có thể được định nghĩa như sau:
Marketing nội bộ là một quá trình liên tục, diễn ra một cách nghiêm túc trong một doanh nghiệp hay một tổ chức mà nhờ đó quá trình chức năng đi đúng hướng, tạo động lực và thúc đẩy nhân viên ở mọi cấp độ quản lý, từ đó có thể tạo nên sự hài lòng cho khách hàng. Marketing nội bộ là quá trình được bắt nguồn từ các thành viên trong tổ chức, các nhân viên trong doanh nghiệp.


2) Một số yếu tố kinh doanh theo định hướng marketing nội bộ
- Tạo ra văn hóa kinh doanh trao quyền trong doanh nghiệp: Điều này được thực hiện khi các nhân viên được nhà quản lý trao quyền hạn nhất định. Cho phép họ sáng tạo, đổi mới, cho phép nhân viên chủ động, có quyền giải trình và chịu trách nhiệm về quyết định của họ.

- Thực hiện việc tuyển dụng lôi cuốn: tức là lôi cuốn, thu hút nhân viên hiện thời tham gia vào quá trình tuyển dụng nhân viên mới.

- Đảm bảo sự công nhận và thưởng công bằng cho nhân viên: doanh nghiệp phải áp dụng một cách có hiệu quả chế độ thưởng đối với nhân viên khi muốn ghi nhận những đóng góp của họ.

- Biểu hiện sự quan tâm trong những thời điểm khó khăn: thể hiện sự quan tâm một cách công bằng và có thiện chí đối với nhân viên gặp phải những thời điểm khó khăn như ốm đau, bệnh tật hay sự ra đi của một thành viên trong gia đình. Điều này có thể được thực hiện bằng việc thiết lập các quỹ dành cho trường hợp khẩn cấp. 

- Một cơ cấu tổ chức tốt là cơ cấu tổ chức cho phép học tập, quản lý chất lượng tổng thể và có thể điều chỉnh lại. 

Sự bùng nổ của kinh tế cũng như sự ảnh hưởng mạnh mẽ của hệ thống ngân hàng đã đem lại nhiều lợi ích cho các quốc gia, tuy nhiên sự hội nhập kinh tế đã và đang thách thức mỗi một ngân hàng phải có những bài toán hợp lý cho việc marketing cho sản phẩm, dịch vụ của mình


Ngày nay tình hình cạnh tranh diễn ra hết sức gay gắt trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế , do vậy nó mang lại cho mỗi doanh nghiệp rất nhiều cơ hội nhưng cũng không ít những thách thức, đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải tự thích nghi và có những hướng đi đúng đắn. Ngân hàng là một nganh dịch vụ đặc biệt có rủi ro lớn: nguyên liệu chính và không thể thay thế của ngân hàng là tiền, phần lớn lại không phải thuộc sở hữu của ngân hàng. Như­ trên chúng ta đã nghiên cứu thì ngân hàng là tổ chức có hoạt động chính là “nhận tiền gửi” để “cho vay”. Số vốn mà ngân hàng được phép huy động có thể gấp tới 20 lần số vốn tự có của ngân hàng. Thực tế sẽ là: toàn bộ số tiền mà ngân hàng sử dụng để cho vay không phải là tiền của ngân hàng. Ngân hàng có trách nhiệm hoàn trả không điều kiện đối với khách hàng gửi khi họ muốn rút tiền, trong khi đó ngân hàng không có quyền đó với khách hàng vay của mình và ngay cả khi đến hạn thì khách hàng vay ch­a chắc đã trả đúng hạn. Điều đó có nghĩa là: trong hoạt động của ngân hàng không thể không có rủi ro, đó là điều tất yếu. Khi ngân hàng gặp rủi ro thì không chỉ ảnh hưởng đến ngân hàng mà còn ảnh hưởng đến nền kinh tế. Chính vì thế marketing được áp dụng vào hoạt động của ngân hàng để hạn chế rủi ro.

Bên cạnh đó, ngân hàng hoạt động trong hành lang hẹp về pháp lý của Nhà n­ớc nhưngvẫn chịu sự cạnh tranh gay gắt của thị trường. Ngân hàng không chỉ cạnh tranh với ngân hàng mà còn cạnh tranh với số l­ợng ngày càng đông các tổ chức tài chính khác đang xâm nhập vào hoạt động ngân hàng. Do đó muốn tồn tại ngân hàng phải nâng cao được sức cạnh tranh và hình ảnh của mình trên thị trường. Mặt khác, sản phẩm của ngân hàng mang tính đơn giản đồng điệu,dễ bị bắt ch­ớc một cách nhanh chóng. Việc đ­a ra sản phẩm mới đối với ngân hàng lại không phải là dễ và điều đó còn phụ thuộc vào điều kiện của nền kinh tế .

Và lý do hơn hết để marketing ứng dụng vào ngân hàng là lợi nhuận. Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh chứ không phải là một tổ chức xã hội do đó lợi nhuận là mục tiêu sống còn của ngân hàng. Marketing được ứng dụng vào ngân hàng nhằm thu hút và thoả mãn nhu cầu khách hàng, và hướng tới mục tiêu cuối cùng đó là lợi nhuận.

Marketing ngân hàng có thể được hiểu đơn giản là marketing được ứng dụng vào hoạt động của ngân hàng nhằm thoả mãn khách hàng và thu được lợi nhuận tối ­ưu.

Tuy nhiên có một số ý kiến khác nhau về marketing ngân hàng như sau:
Marketing ngân hàng là hoạt động tiếp cận thị trường của ngân hàng th­ương mại nhằm phát hiện nhu cầu về các sản phẩm dịch vụ từ đó ngân hàng thoả mãn tối đa nhu cầu đó nhằm mang lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động kinh doanh.

“Marketing ngân hàng là một hệ thống tổ chức quản lý của một ngân hàng để đạt được mục tiêu đề ra của ngân hàng là thoả mãn tốt nhất nhu cầu về vốn, cũng như các dịch vụ khác của ngân hàng đối với nhóm khách hàng lựa chọn bằng các chính sách, biện pháp hướng tới các mục tiêu cuối cùng là đối đa hoá lợi nhuận”

Và thực tế đã chứng minh các ngân hàng kinh doanh trên cơ sở các hoạt động đã được chiến l­ược hóa luôn thành công hơn các ngân hàng kinh doanh theo kiểu tuỳ tiện đối phó với thị trường. Sự thành công của các ngân hàng không xây dựng các chiến lược marketing, nếu có, chỉ là sự may mắn mà thôi và mang tính ngắn hạn.
1) Khái niệm marketing dịch vụ
Marketing dịch vụ là sự thích nghi lý thuyết hệ thống vào thị trường dịch vụ, bao gồm quá trình thu nhận, tìm hiểu, đánh giá và thỏa mãn nhu cầu của thị trường phát triển bằng hệ thống các chính sác, các biện pháp tác động vào toàn bộ quá trình sản xuất, cung ứng và tiêu dùng dịch vụ thông qua phân bố các nguồn lực của tổ chức. Marketing được duy trì trong sự năng động qua lại giữa các sản phẩm dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng và những hoạt động của đối thủ cạnh tranh trên nền tảng cân bằng lợi ích giữa doanh nghiệp, người tiêu dùng và xã hội.

Khái niệm đã đề cập đến một số vấn đề cơ bản của marketing dịch vụ:
- Nghiên cứu nhu cầu, đặc điểm nhu cầu của thị trường mục tiêu và những yếu tố chi phối thị trường mục tiêu.
- Thỏa mãn nhu cầu có hiệu quả hơn đối với đối thủ cạnh tranh trên cơ sở khai thác và huy động các nguồn lực của tổ chức.
- Thực hiện cân bằng động các mối quan hệ sản phẩm dịch vụ (loại hình, số lượng, chất lượng) với sự thay đổi nhu cầu của khách hàng.

Khái niệm, định nghĩa marketing dịch vụ

2) Đặc điểm marketing dịch vụ
Marketing dịch vụ được phát triển trên cơ sở thừa kế những kết quả của Marketing hàng hóa. Tuy nhiên, do những đặc điểm riêng của dịch vụ, hệ thống Marketing Mix cho hàng hóa không hoàn toàn phù hợp với các tổ chức cung ứng dịch vụ. “Tiếp thị trong thế kỷ 21 không còn bó hẹp trong công thức 4P truyền thống nữa mà đã và đang mở rộng ra thêm 3P thành Công thức 7P. Những nỗ lực tiếp thị sẽ được tiếp thêm nhiều năng lực và đánh bại các đối thủ cạnh tranh với công thức mới này. Một khi doanh nghiệp đã xây dựng xong chiến lược tiếp thị, công thức 7P nên được sử dụng để liên tục đánh giá và tái đánh giá các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp”.

Product ( Sản phẩm ) Sản phẩm là những cái gì có thể đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng. Hàng hoá là sản phẩm có thể đưa vào thị trường để tạo ra sự mua bán. Doanh nghiệp chỉ có thể đạt được lợi nhuận thỏa đáng nếu đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng. Sản phẩm là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất của hệ thống Marketing – mix. Chất lượng của sản phẩm được đo lường giữa chất lượng khách hàng kì vọng và chất lượng khách hàng mong đợi. Nếu chất lượng thực tế của sản phẩm không như mong đợi thì khách hàng sẽ cảm thấy thất vọng. Ngược lại, khi chất lượng thực tế của sản phẩm đáp ứng như mong đợi hoặc vượt quá sự mong đợi thì khách hàng sẽ cảm thấy hài lòng và hoan hỉ, vui vẻ. Chất lượng thật sự của hàng hoá do nhà sản xuất cung cấp thường khác với chất lượng khách hàng cảm nhận được. Chất lượng mà khách hàng cảm nhận mới là quan trọng. Chính vì thế doanh nghiệp cần phải có một chính sách sản phẩm hợp lý. Chính sách sản phẩm này đòi hỏi phải thông qua những quyết định phù hợp với nhau về từng đơn vị hàng hoá, chủng loại hàng hoá và danh mục hàng hoá

Price ( Giá ) Giá cả là những gì mang lại doanh thu, lợi nhuận cho doanh nghiệp. Đồng thời, giá tạo ra chi phí cho khách hàng, là những gì họ “trả” để có được sản phẩm với tính năng và nhãn hiệu cụ thể. Doanh nghiệp phát triển thói quen thường xuyên xem xét và xem xét lại các mức giá của các sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp đang cung cấp để đảm bảo rằng nó luôn phù hợp với thực tế của thị trường hiện tại. Bằng việc nâng giá, các doanh nghiệp có thể đánh mất một số lượng khách hàng, nhưng tỷ lệ phần trăm (%) khách hàng còn lại có thể sẽ phát sinh lợi nhuận trên từng giao dịch bán hàng. Do đó để xây dựng chính sách giá cả các doanh nghiệp cần phải lưu ý: Chi phí nào doanh nghiệp phải chịu với mức giá mà thị trường chấp nhận có lãi; sản phẩm mang nhãn hiệu của doanh nghiệp mình đáng giá bao nhiêu và làm sao truyền được giá trị này cho khách hàng; mức doanh thu hay thị phần nào, sản phẩm có thể đạt được, để thu lợi nhuận tối đa.

Promotion ( Xúc tiến ) Xúc tiến bao gồm tất cả các cách thức mà doanh nghiệp có thể nói với khách hàng về sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp và làm thế nào doanh nghiệp có thể tiếp thị và bán chúng. Những thay đổi nhỏ trong cách thức mà doanh nghiệp xúc tiến và bán sản phẩm, dịch vụ có thể dẫn tới những thay đổi lớn trong kết quả kinh doanh. Thậm chí cả những thay đổi nhỏ trong quảng cáo cũng có thể dẫn ngay tới doanh số bán hàng cao hơn. Doanh nghiệp cần phải linh hoạt hơn trong công tác xúc tiến của mình. Ngay khi phương pháp bán hàng và tiếp thị hiện tại không còn phù hợp nữa doanh nghiệp cần phải xây dựng những chiến lược, chào mời và phương pháp tiếp thị, bán hàng và quảng cáo mới.

Place ( Kênh phân phối ) Chữ P thứ tư trong Công thức tiếp thị 7P đó là địa điểm nơi doanh nghiệp thực tế bán các sản phẩm hay dịch vụ. Việc lựa chọn địa điểm hoặc kênh phân phối phù hợp sẽ ảnh hưởng tới kết quả tăng trưởng doanh số bán hàng mạnh mẽ. Bên cạnh đó việc lựa chọn địa điểm bán hàng tốt sẽ giúp cho khách hàng nắm rõ những thông tin thiết yếu về sản phẩm hoặc dịch vụ cần thiết cho những quyết định sử dụng của khách hàng.

Process ( Cung ứng dịch vụ ) Do tính đồng thời trong quá trình cung ứng dịch vụ, chất lượng của sản phẩm dịch vụ được đảm bảo chủ yếu thông qua một quy trình cung ứng rõ ràng, chuẩn xác. Loại trừ được những sai sót từ cả hai phía. Một quy trình hiệu quả cũng hạn chế được đặc điểm không đồng nhất trong quá trình cung ứng dịch vụ.

Physical evidence ( Điều kiện vật chất ) Môi trường vật chất của công ty cung ứng dịch vụ là nơi dịch vụ được tạo ra, nơi khách hàng và người cung ứng dịch vụ giao tiếp, thêm vào đó là những phần tử hữu hình được sử dụng để hỗ trợ vai trò của dịch vụ. Do đặc trưng của dịch vụ là vô hình cho nên trong kinh doanh dịch vụ các nhà Marketing phải cố gắng cung cấp các đầu mối vật chất để hỗ trợ vị trí và tăng cường cho dịch vụ bao quanh nhằm làm giảm bớt tính vô hình của dịch vụ. Do vậy có thể khẳng định bằng chứng vật chất của công ty cung ứng dịch vụ là hết sức quan trọng. Nó giúp cho việc tạo ra vị thế của công ty và trợ giúp hữu hình cho dịch vụ. Chính vì vậy mà các ngân hàng đã phải chi ra những khoản tiền lớn để tạo ra kiểu dáng kiến trúc các trang trí nội thất, trang bị đồng phục cho nhân viên…nhằm gây ấn tượng về tiếng tăm, uy tín vị thế của mình.

People ( Con người ) Con người là nhân tố giữ vị trí quan trọng trong Marketing dịch vụ và nó là nhân tố chính tạo ra dịch vụ và quyết định tới chất lượng dịch vụ cung ứng. Bởi vì con người là nhân tố không thể thiếu tham gia vào quy trình cung ứng dịch vụ của công ty. Do vậy chất lượng dịch vụ cũng như sự thành công của một công ty, Marketing dịch vụ phụ thuộc rất nhiều vào việc tuyển chọn đào tạo con người. Chính vì thế khả năng lựa chọn, tuyển dụng và giữ chân những con người thích hợp với những năng lực và kỹ năng tốt để hoàn thành công việc được giao phó là rất quan trọng.

Sunday, June 15, 2014

Thực ra thì đây không phải là khái niệm mới, trên thế giới hình thức tiếp thị này đã được sử dụng từ khá lâu rồi (khoảng từ thập niên 60). Cho đến nay thì hình thức này được sử dụng dưới rất nhiều cách khác nhau, nhưng vẫn giữ được bản chất của nó dựa trên một trong các thương hiệu, nhân hiệu, sự kiện có tầm ảnh hưởng lớn, nhận được sự quan tâm của nhiều người như những vận động viên thể thao, các siêu sao màn ảnh, ngôi sao âm nhạc… Những yếu tố này đã trở thành chiến lược hiệu quả trị giá hàng triệu USD.

>> Marketing là gì | Định nghĩa Marketing hiện đại

Influence Marketing là gì?

* Influence Marketing tạm hiểu là Tiếp thị ảnh hưởng.

Influence có gì mới? Người ảnh hưởng của bạn là ai?

Trong thời đại xã hội ngày nay, bất kỳ người dùng Online nào đều có khả năng trở thành người có sức ảnh hưởng đến thị trường của bạn. Trước đây người dùng không ưa chuộng hình thức mua hàng trực tuyến bởi rất nhiều lý do khác nhau, ví dụ như: độ tin cậy, hàng hóa không đảm bảo… Tuy nhiên ngày nay, ngày càng có nhiều người dùng tin tưởng hơn vào các trang web bán hàng trực tuyến bởi sự tiện ích mà những trang web đó mang lại cho họ.

Cho dù bạn là doanh nghiệp có quy mô lớn hay chỉ là một cửa hàng có quy mô nhỏ, bạn cũng cần phải khai thác sức mạnh hiện tại của Influence Marketing (hình thức kinh doanh tiếp thị ảnh hưởng). Sử dụng Influence Marketing để có dược khả năng tiếp cận và tăng mức độ tin tưởng của người dùng dành cho doanh nghiệp, sản phẩm của bạn.

Có một ưu điểm rất lớn khi bạn sử dụng Influence Marketing trong thời điểm hiện tại đó là bạn không cần phải có một nguồn ngân sách lớn – mà điều quan trọng nhất ở đây đó là bạn cần tìm hiểu cách thức thực hiện Influence Marketing một cách hiệu quả.

Influence Marketing là gì?
Influence Marketing (còn được biết đến với tên gọi Influencer Marketing) là phương thức tiếp thị đến những người có ảnh hưởng xã hội đến đối tượng mục tiêu của bạn. Điều quan trọng là người có ảnh hưởng của bạn phải có tác động xã hội để thuyết phục người khác hành động theo kết quả dự định của bạn. (Kết quả của bạn có thể là việc bán một dòng sản phẩm cụ thể, nâng cao nhận thức thương hiệu hoặc cải thiện lượt truy cập vào blog của bạn).

Người có ảnh hưởng nhất đến truyền thông là những người nổi tiếng được mọi người biết đến rộng rãi. Những người nổi tiếng và các vận động viên thể thao là những ví dụ điển hình. Các thương hiệu lớn đã hợp tác với những người có ảnh hưởng phổ biến để thuyết phục người tiêu dùng sử dụng sản phẩm của họ trong nhiều thập kỷ qua.

Ngày nay, ngày càng có nhiều người ảnh hưởng đến doanh nghiệp của bạn hơn. Người có ảnh hưởng hàng đầu của bạn có thể là một blogger truyền thông nổi bật, với một lượng follow khá mạnh trên Mạng xã hội.

Bất kì doanh nghiệp nào, dù là quy mô lớn hay nhỏ, đều có thể đem Influence Marketing vào thực tiễn. Bạn không cần phải có ngân sách tiếp thị khổng lồ để có thể truyền đạt ý tưởng của mình thông qua những nhân vật ảnh hưởng xã hội.

Tại sao nên sử dụng Influence Marketing?

Influence Marketing có thể giúp bạn cải thiện doanh thu, phát triển nhận thức thương hiệu, gia tăng ảnh hưởng xã hội của riêng bạn, và còn nhiều nhiều hơn thế nữa. Trong seri bài viết này, tôi sẽ tập trung vào việc hợp tác với những người có ảnh hưởng trong thị trường với mục đích thu hút traffic cho blog của bạn.

Kết nối với những người có ảnh hưởng trong lĩnh vực của mình sẽ gia tăng sự ảnh hưởng và cả sự tin tưởng mọi người dành cho bạn. Những người ảnh hưởng hàng đầu trong lĩnh vực của bạn có thể mở rộng giúp bạn đến với nhiều khách hàng mục tiêu hơn. Họ có thể cung cấp cho mọi người sự tin tưởng vào thương hiệu của bạn bằng cách liên kết bạn với các thị trường mới.

Tương tự như thế, người tiêu dùng cũng chính là những người có ảnh hưởng. 90% người tiêu dùng, và cả các độc giả, đều tin tưởng vào lời đề nghị của đồng nghiệp họ. Khai thác những đồng nghiệp có ảnh hưởng đó để giành được sự tin tưởng mọi người dành cho blog của bạn, và bạn có thể bắt đầu cuộc chạy đua thu hút độc giả và khách hàng mới vào doanh nghiệp của mình.

Ngoài ra, các công cụ tìm kiếm, chẳng hạn như Google, hiện nay tín hiệu mạng xã hội cũng là một trong những tiêu chí để xếp hạng website của bạn – điều đó có nghĩa là bạn càng có nhiều yếu tố ảnh hưởng xã hội, thì SEO và SERP (bảng xếp hạng kết quả tìm kiếm) của bạn càng tốt hơn.


Theo Phuon.com

Saturday, June 14, 2014

Social dịch sang tiếng Việt có nghĩa là mạng xã hội. Là một loại hình dịch vụ phát triển trên nền internet giúp kết nối mọi người lại với nhau thông qua một website. Gửi tin nhắn, liên hệ tức thì tại mọi nơi trên thế giới là một đặc điểm dễ nhận thấy của mạng xã hội. Và cũng nhờ đặc điểm này mà mạng xã hội đã nhanh chóng phát triển từ năm 2005 tới nay và trở thành một trong những nhu cầu không thể thiếu đối với nhiều người khi họ truy cập vào mạng

>> Marketing là gì | Định nghĩa Marketing hiện đại

Social marketing là gì ? Định nghĩa Social marketing

Những con số thống kê khiến marketing chú ý:
- Facebook: hơn 1 tỷ người sử dụng
- Twitter: hơn 400 triệu người sử dụng
- Google+: hơn 350 triệu người sử dụng

Khi các trang mạng xã hội phát triển và thu hút một lượng người dùng lớn cũng là lúc những người đầu tư ra nó bắt đầu cung cấp các khu vực dành cho quảng cáo, các dịch vụ giúp cho những người làm marketing có thể tiếp cận được với đối tượng khách hàng một cách nhanh chóng và trực quan nhất. 

Như vậy Social marketing chính là việc mà làm marketing thông qua môi trường mạng xã hội. Giúp doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đưa các sản phẩm, dịch vụ của mình đến với nhiều người hơn, nâng cao khả năng nhận diện thương hiệu và từ đó giúp thu về lợi nhuận. 

Định nghĩa Social marketing
Social marketing là một hình thức của internet marketing thông qua quá trình làm việc với mạng xã hội để thực hiện các cuộc trao đổi nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của con người. Tăng doanh số, sức mua hàng đối cho các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp
Chiến lược marketing cho sản phẩm mới là một việc làm vô cùng quan trọng trong sự thành công của mỗi sản phẩm. Các nhà đầu tư, những người làm marketing cần phải vạch ra những bước làm cần thiết để có thể thực hiện việc đưa hình ảnh sản phẩm mới đi vào tâm trí của khách hàng, biến nó quá trình làm marketing trở thành đòn bẩy động lực khiến khách hàng ra quyết định mua hàng hoặc ít nhất là thử tìm hiểu về sản phẩm mới của mình.

>> Chiến lược marketing là gì ?
>> 3 bước xây dựng chiến lược marketing online hiệu quả

Chiến lược marketing cho sản phẩm mới

Chiến lược marketing cho sản phẩm mới cần thực hiện qua các bước cơ bản sau đây:

- Luôn nhớ đến mô hình 4P. Để hoàn thành mục tiêu thì bản kế hoạch của bạn phải tuân thủ theo mô hình 4P này. (4P – là ghép từ 4 chữ Product – Price – Place – Promotion.

- Mô tả thị trường mục tiêu, phân khúc thị trường theo: Độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, mức thu nhập…Nếu bản kế hoạch không đủ tiền lực thì bạn cần phải tập trung cho việc xúc tiến sản phẩm đến những khách hàng mà bạn nghĩ là họ có thể mua hàng của bạn. Khi bạn có nhiều khách hàng hơn thì bạn cần phải thay đổi bản kế hoạch cân đối cho phù hợp.

- Nghiên cứu kỹ đối thủ cạnh tranh thông qua các dữ liệu nghiên cứu thị trường, nhu cầu sản phẩm, xác định điểm mạnh, điểm yếu, sự tương đồng và sự khác biệt trong chiến lược giá cả giữa bạn và đối thủ.
Phải đứng trên quan điểm khách hàng để cảm nhận sản phẩm của bạn. Lòng trung thành của khách hàng phụ thuộc vào việc bạn hiểu rõ khách hàng của mình muốn gì, cần gì..?

- Thiết lập ngân sách cho bản kế hoạch marketing cho sản phẩm mới. Cần vạch ra những chiêu thức cho quảng cáo, khuyến mãi, truyền thông…phù hợp với ngân sách đưa ra. Quan trọng nhất là phải đẩy mạnh sự nhận biết của khách hàng về thương hiệu của bạn thông qua các chiêu thức trên.

- Nghiên cứu kỹ chiến lược giá cho sản phẩm mới. Để thành công bạn cần phải lập hoạch định, thiết lập chính sách giá và luôn kiểm tra so sách với chi phí để đảm bảo lợi nhuận.

- Thực hiện 1 chiến lược xúc tiến hiệu quả. Con đường bạn có thể chọn: báo, đài phát thanh, radio, internet…Phải chắc chắn những chiến lược đó đem lại giá trị cho khách hàng từ thính giác cho đến thị giác.



Thursday, June 12, 2014

Internet phát triển từ những thập niên 90 đã thực sự tạo ra một bức phát triển nhảy vọt về khả năng cung cấp thông tin, kết nối thế giới. Bạn có thể ngồi nhà và bật máy tính đã kết nối vào internet để đọc các tin tức từ khắp nơi trên thế giới, xem các video, tìm kiếm tại liệu để học tập nghiên cứu. Những việc này lẽ ra bạn chỉ có thể làm với Tivi và thư viện nếu không có internet. 

Internet Marketing là gì
Internet Marketing là gì ? Khái niệm Internet Marketing
Từ những lợi ích tuyệt vời mà internet mang lại cho người dùng, thật dễ hiểu khi theo thời gian, số người sử dụng internet lại ngày một nhiều hơn, thời gian trung bình một người dành cho internet cũng nhiều hơn. Điều đó có nghĩa là thời gian họ dành để đọc báo giấy, đi ra ngoài đường sẽ giảm đi. Xét trên khía cạnh của marketing là tiếp thị sản phẩm thì chỗ nào có nhiều người quan tâm, biết đến thì chỗ đó sẽ có marketing. Môi trường mạng đang thu hút rất nhiều người sử dụng và lẽ dĩ nhiên một khái niệm mới sẽ ra đời đó là: Internet Marketing. Vậy internet marketing là gì

Internet marketing là quá trình làm việc với môi trường internet để thực hiện việc nghiên cứu, tiếp cận khách hàng nhằm thỏa mãn nhu cầu trao đổi, buôn bán hàng hóa, dịch vụ

Khái niệm internet marketing cũng chỉ rõ internet marketing là quá trình làm việc với môi trường internet. Tại sao lại nó là môi trường internet ? Bởi vì Internet nó chứa đựng trong nó nhiều loại hình khác nhau mà mỗi loại hình (cách thức tiếp cận) lại có phương pháp làm khác nhau để có thể tiếp cận được khách hàng. Việc hiểu một cách cơ bản khái niệm internet marketing sẽ giúp bạn dễ dàng làm quen với các thuật ngữ khác trong internet marketing. Cũng có thể hiểu giống nhau những Internet marketing và online marketing.

Ở phần sau chúng ta sẽ tìm hiểu về: "Các hình thức marketing online hiện nay" 

Wednesday, June 11, 2014

Tác động của môi trường vi mô tới hoạt động marketing luôn là vấn đề cần phải nghiên cứu bởi thông qua đó chúng ta có thể hiểu về thị trường, về những yếu tố có sức ảnh hưởng lớn đế hoạt động marketing nói riêng và hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung. Trong bài này chúng ta sẽ tìm hiểu về ảnh hưởng từ các tổ chức dịch vụ môi giới marketing

>> Ảnh hướng của đối thủ cạnh tranh trong hoạt động marketing

Ảnh tới đối với hoạt động marketing từ tổ chức dịch vụ môi giới

Trong quá trình kinh doanh nói chung, đặc biệt là trong việc tiêu thụ hàng hóa, công ty còn nhận được sự trợ giúp - phối hợp - cung ứng nhiều dịch vụ. Chẳng hạn như dịch vụ tìm kiếm khách hàng, dịch vụ tiêu thụ, dịch vụ dự trữ hàng hóa, dịch vụ trưng bày và giới thiệu sản phẩm, dịch vụ vận chuyển hàng hóa, dịch vụ marketing, dịch vụ quảng cáo, dịch vụ tài chính - ngân hàng, bảo hiểm...Tất cả các loại dịch vụ trên được cung ứng bởi 4 loại tổ chức sau:

- Các tổ chức môi giới thương mại như: các doanh nghiệp thương mại, các công ty bán buôn, bán lẻ, các cửa hàng...Trong thời đại ngày nay, do tính chuyên nghiệp của các tổ chức này càng cao, quy mô kinh doanh ngày càng lớn, phạm vi bao phủ thị trường ngày càng rộng, các công ty này đôi khi có sức mạnh rất lớn trên thị trường và có thể tạo ra các áp lực đối với các nhà sản xuất. Trái lại, nếu khéo thiết lập quan hệ với các tổ chức này, công ty có thể dễ dàng hơn trong việc đạt được các mục tiêu kinh doanh của mình.

- Các công ty chuyên tổ chức lưu thông hàng hóa: công ty kho vận, công ty vận tải.

- Các tổ chức cung ứng dịch vụ marketing: công ty nghiên cứu marketing, công ty tư vấn marketing; các công ty quảng cáo; các tổ chức phương tiện quảng cáo (đài truyền hình, đài truyền thanh).

- Các tổ chức tài chính - tín dụng: các ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các công ty bảo hiểm...

Số lượng, chất lượng, thời gian cung ứng, giả cả dịch vụ cung ứng, lãi suất đối với ngân hàng và tổ chức tín dụng, mức phí bảo hiểm đều là những yếu tố có thể tác động đến hoạt động marketing. Công ty luôn luôn phải cân nhắc tự tổ chức hay mua dịch vụ của các công ty môi giới, dịch vụ nào tự tổ chức, dịch vụ nào phải mua ngoài. Trong trường hợp phải mua ngoài thì cần thiết lập các quan hệ bạn hàng như thế nào để tạo ra một môi trường kinh doanh tốt nhất cho công ty. Nếu không những điều kiện bất lợi có thể ập đến với công ty bất kỳ lúc nào

Tuesday, June 10, 2014


22 quy luật bất biến trong Marketing – là một cuốn sách hay, nó chỉ ra cho bạn những điều bạn nên tránh hoặc nên làm để có thể thành công trong chiến lược Marketing của mình. Ở đây tôi không viết lại nguyên bản – vì bạn có thể mua nó ở các hiệu sách – mà tôi chỉ tóm tắt lại để các Saganor nó thêm tài liệu để tham khảo.


1. Quy luật dẫn đầu
Chắc chắn là bạn đã từng nghe rất nhiều câu tương tự như vậy: Cho một chai Coca-Cola – người bán có thể đem cho bạn 1 chai Pepsi (nếu họ không có bán Coca Cola) hoặc Tôi muốn mua máy tính dành riêng cho dân đồ hoạ – mặc nhiên tự hiểu là máy Apple …Vậy bạn có từng nghĩ là tại sao người ta lại mặc nhiên gọi CocaCola là nước ngọt, gọi máy Apple là máy dành cho dân đồ hoạ? — Đó là do CocaCola và Apple là những công ty đã tiên phong trong lĩnh vực mà họ kinh doanh. Đã có rất nhiều cuộc nghiên cứu và người ta đã đúc kết được một câu như thế này.Thâm nhập vào ký ức khách hàng đầu tiên bao giờ cũng dễ dàng hơn so với việc thuyết phục họ đây là một sản phẩm tốt.

Tuy nhiên không phải lúc nào đây cũng là điều tốt nhất. Bằng chứng là cũng đã có nhiều công ty phải phá sản vì đi đầu. Chẳng lẽ quy luật này sai? Không đâu, bạn phải thêm 2 yếu tố nữa. Đó là Hãy chọn đúng thời đểm làm người dẫn đầu và Các ý tưởng đừng quá điên rồ vì chúng sẽ chẳng đi đến đâu.

2. Luật loại hình
Luật này rất đơn giản: Nếu bạn không phải là người dẫn đầu, thì hãy xác lập 1 loại hình mới mà bạn có thể là người đầu tiên thâm nhập Nói rất đơn giản, nhưng việc làm nó không dễ chút nào. Bởi vì bạn phải rất cẩn thận khi quyết định là Người Dẫn Đầu. Tại sao phải như vậy? Đơn giản, tại vì con người hay quan tâm đến các sản phẩm mới chứ ít khi quan tâm đến cái tốt hơn.

3. Luật kí ức
Bạn hãy là người đầu tiên đi vào ký ức của khách hàng hơn là người đầu tiên đi vào thị trường Chà chà, cảm thấy sao nó đối chọi với cái luật số 1 thế? Thật ra luật số 1 vẫn đúng. Nhưng nếu bạn đã lỡ vào sau thì chẳng lẽ bạn không có cơ hội thành công? Hãy xem ví dụ dưới đây Các hãng sản xuất máy tính có: Apple, Ismai 8080, Mits Altair 8800… theo bạn cái tên nào dễ nhớ nhất. Tôi tin là hỏi 100 người thì đến 101 người nói là Apple.Vậy bạn nên chọn một cái tên dễ nhớ, đó cũng là 1 trong các yếu tố dẫn đến thành công Hãy nhớ điều này: Nhận thức bao giờ cũng chiếm địa vị cao hơn thị trường.

4. Luật nhận thức
Con người hầu hết đều cho rằng mình nhận thức tốt hơn người khác và con người hay đồng nhất Sự Thật và Nhận Thức trong ký ức của họ. Vì lẽ đó, Marketing không phải là trận chiến của sản phẩm mà đó là trận chiến của các nhận thức Mọi thứ tồn tại trong Marketing đều là những nhận thức trong tâm trí của khách hàng NHẬN THỨC là THỰC TẾ — MARKETING LÀ CUỘC CHIẾN CỦA CÁC NHẬN THỨC.

5. Luật tiêu điểm
Điều mạnh nhất trong Marketing là sở hữu 1 từ trong ký ức khách hàng.
Ví dụ:
IBM sở hữ từ Computer CocaCola sở hữu từ Coca Hãy tập trung vào 1 từ duy nhất và dễ nhớ hơn là những câu nói dài dòng. Đúng vậy khi bạn đã lấy được một từ duy nhất trong đầu khách hàng, thì chuyện thành công đương nhiên sẽ đến với bạn. Hãy tưởng tượng nếu bạn mở một tiệm rửa ảnh. Tiệm của bạn làm rất nhanh, chỉ cần 5 phút là có ảnh. Vậy thì bạn đang sở hữu một từ rất quan trọng – NHANH – và đương nhiên bạn sẽ thành công với từ NHANH.

6. Luật loại trừ
Đơn giản là bạn đừng bao giờ sử dụng từ mà công ty đối thủ đã có. Tôi đã từng nghe 1 người thầy nói: Chỉ có sự khác biệt mới đem lại thành công cho bạn, nếu bạn theo chiến lược Me Too thì chắc chắn 1 điều là mình sẽ chẳng bao giờ bằng đối thủ.

7. Luật nấc thang
Khi không thể là người dẫn đầu, bạn đừng lo, bởi vì luật số 8 sẽ làm cho bạn yên tâm, vì thế hãy chấp nhận cái nấc thang của bạn. Nhưng hãy cố gắng đi lên càng cao càng tốt.
Còn 1 điều nữa, đó là số lượng tối đa của 1 chiếc cầu thang là 7 nấc.

8. Luật thay đổi
Đây là luật làm bạn yên tâm khi bạn không thể là người dẫn đầu. Bởi vì về lâu dài thì thị trường chỉ còn là cuộc đua song mã.

9. Luật đối lập
Đương nhiên trong việc kinh doanh, ai mà muốn mình giống người khác. Vì vậy bạn hãy cố gắng để trở nên khác biệt chứ đừng trở thành một cái tốt hơn cái sẵn có. Vậy có cách nào khác không? Có chứ, hãy biến mình thành một sản phẩm thay thế. Vậy thôi.

10. Luật phân chia
Theo thời gian, 1 loại hình sẽ chia và trở thành nhiều loại hình. Cho nên, cách tốt nhất là bạn hãy đặt tên cho từng loại sản phẩm, nhưng hãy đặt tên khác nhau (đừng gán ghép tên chung) cho từng loại sản phẩm khác nhau.

11. Luật viễn cảnh
Hãy có một tầm nhìn rộng và một cái đầu phân tích lâu dài. Đừng bao giờ để cái lợi trước mắt làm cho bạn mất phương hướng. Một ví dụ nho nhỏ: Để tăng doanh số bạn sẽ tung khuyến mãi hoặc giảm giá, nhưng nếu hoạt động này diễn ra thường xuyên thì bạn sẽ chẳng bao giờ bán lại được giá gốc.

12. Luật mở rộng mặt hàng
Khi làm cái gì cũng phải xét rõ 2 mặt Lợi và Hại. Luật Mở Rộng Mặt Hàng cũng vậy. Cái lợi của nó là: Thúc đẩy doanh số bán hàng. Nhưng cái hại của nó là: về lâu dài, doanh nghiệp sẽ phải dàn trãi sức trong nhiều lĩnh vực và dễ bị các cty chuyên ngành tấn công. Và nguyên tắc vàng: Khi bạn đại diện cho tất cả có nghĩa là bạn chẳng đại diện cho cái gì.

13. Luật hy sinh
Không có gì toàn vẹn, bạn phải biết hy sinh một cái gì đó để có được một cái gì đó. Nghe có vẻ hàn lâm nhỉ? Thật sự đã có rất nhiều doanh nghiệp thành công nhờ nó. Bạn nghĩ xem, có ai nói là điện thoại Nokia đẹp chưa? Không, tôi chưa bao giờ nghe, tôi chỉ nghe nói là điện thoại Nokia bền và sóng tốt. Chỉ có SamSung mới đẹp. Họ đã áp dụng luật hy sinh và thành công.

14. Luật các thuộc tính
Chỉ có một thuộc tính hiệu quả cho 1 sản phẩm. Vì vậy hãy cố gắng tìm cho mình 1 thuộc tính hiệu quả nhất cho sản phẩm của mình. Bạn sẽ chẳng bao giờ đoán được độ lớn thị phần của thuộc tính mới, vì vậy đừng bao giờ “cười”.

15. Luật ngay thẳng
Người ta hay nói: thuốc đắng dã tật. Sự thật là vậy, bao giờ cũng gặp nhiều trắc trở trong việc nói sự thật. Và để nói sự thật, bạn phải chấp nhận các “yếu tố tiêu cực”. Nhưng điều kế tiếp, bạn phải nhanh chóng chuyển sang yếu tố tích cực hơn. Trung thực là một chính sách tốt nhất.

16. Luật lập dị
Chỉ có 1 điều để nói duy nhất ở đây: Hãy suy nghĩ và tìm cho ra những điểm sơ hở dù là nhỏ nhất, khó nhất và tấn công vào đó. Đây là cách mà Hitler đã làm khi tấn công vào Pháp bằng cách đưa đoàn quân xe tăng đi qua tuyến Maginot. Vì vậy người ta ví Luật Lập Dị = Maginot

17. Luật không thể đoán trước
Bạn sẽ chẳng bao giờ đoán trước được tương lai. Nhưng may mắn thay bạn có thể dự đoán được xu hướng. Mọi điều bất ngờ luôn có thể xảy ra. Vì vậy bạn phải luôn chuẩn bị mọi thứ để “đón” những điều bất ngờ và hãy cố gắng nắm bắt lấy tất cả các cơ hội.

18. Luật thành công
Có một sự thật mà bạn không thể chối cãi được:
Thành công -> Kêu ngạo -> Thất bại
Vì vậy dù thành công bạn cũng hãy luôn hiểu khách hàng và hạn chế tối đa cái tôi của bản thân.

19. Luật thất bại
Luật này chỉ có 1 câu duy nhất: Phải biết chấp nhận thất bại. Đơn giản là vậy.

20. Luật cường điệu
Tình huống thường trái ngược với cách nó xuất hiện.
Khi thành công -> không cường điệu
Khi cường điệu -> đang có vấn đề.
Thử suy nghĩ xem có đúng không!

21. Luật gia tốc
Các chương trình quảng cáo thành công thường được xây dựng trên các xu hướng chứ không phải là những mốt nhất thời. Mốt nhất thời chỉ là 1 hiện tượng ngắn hạn và giúp bạn có lãi nhanh trong 1 thời gian ngắn. Nhưng cái giúp bạn thành công là 1 xu hướng dài hạn

22. Luật tài nguyên
Đây là cái mà ai cũng hiểu. Khi bạn có 1 ý tưởng tốt mà bạn chẳng có chút tài nguyên nào thì sự thất bại là đương nhiên. Cho nên khi bạn muốn thực hiện một chiến lược tốt thì điều kiện đi kèm là có sự tài trợ thoả đáng cho chiến lược đó.

Download link: http://goo.gl/nbHFlA
Trong quá khứ, để thành công trong kinh doanh, mỗi một công ty có thể sử dụng những các marketing khác nhau nhằm lôi kéo khách hàng quan tâm và lựa chọn sản phẩm dịch vụ của mình. Tuy nhiên với những cách làm marketing đơn lẻ đã bộc lộ nhiều những điểm yếu. Từ đó marketing hỗn hợp đã ra đời như một cách linh hoạt hơn để giúp các doanh nghiệp có thể cạnh tranh và tồn tại trong thị trường ngày càng nhiều đối thủ. 

Giống như tên gọi của nó: Marketing hỗn hợp (Marketing MIX) được đề cập lần đầu tiên vào năm 1953 bởi Neil Borden - là chủ tịch của hiệp hội marketing Hòa Kỳ khi đó. Đó là tập hợp những công cụ tiếp thị mà công ty có thể sử dụng để đạt được trung tâm tiếp thị trong thị trường mục tiêu.

Định nghĩa marketing MIX | Marketing tinh MIX là gì ?
Định nghĩa marketing MIX | Marketing tinh MIX là gì ?
Marketing MIX: là tập hợp những yếu tố biến động kiểm soát được của marketing mà doanh nghiệp sử dụng để cố gắng gây được phản ứng mong muốn từ phía thị trường mục tiêu

Từ định nghĩa marketing MIX, chúng ta đặt ra câu hỏi là: những yếu tố biến động kiểm soát được đó là gì ? Những công cụ tiếp thị mà công ty có thể sử dụng là gì ? Thì để chuẩn hóa cách hiểu và thực hiện các chiến dịch markeing hỗn hợp. Người ta sử dụng thuật ngữ 4P để phân loại ra các công cụ trong marketing MIX cụ thể là:

- Chính sách sản phẩm
- Chính sách giá
- Chính sách phân phối sản phẩm
- Chính sách xúc tiên bán hàng

Trong thời đại ngày ngay, việc vận dụng markeitng MIX có thể thấy ở cả các cửa hàng nhỏ chứ không dừng lại ở những tập đoàn hay công ty lớn. Bạn có thể thấy các cửa hàng bán online luôn cạnh tranh về chinh sách giá sản phẩm, chính sách giao hàng, phân phối và không thiếu những sự kiện khuyến mại, tặng quà để xúc tiến bán hàng. Như vậy, marketing hỗn hợp là một hình thế phù hợp trong bối cảnh quan hệ sản xuất và lượng lượng sản xuất đang ở trong độ phát triển cộng hưởng và tác động đồng thời lẫn nhau. 
Để tiến hành sản xuất ra hàng hóa hay dịch vụ cung cấp cho thị trường bất kỳ công ty nào cũng cần được cung cấp các yếu tố đầu vào như: nguyên, nhiên, vật liệu, phụ tùng, bán thành phẩm, chi tiết, máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất và quản lý. Ngoài ra, công ty cũng cần phải thuê (tuyển dụng) lao động, thuê đất, vay tiền...

>> Ảnh tới đối với hoạt động marketing từ tổ chức dịch vụ môi giới

Những biến động trên thị trường các yếu tố đầu vào luôn luôn tác động một cách trực tiếp với mức độ khác nhau tới các quyết định marketing của công ty. Những biến đổi về tất cả các phương diện số lượng, chất lượng, giá cả, nhịp độ cung cấp, cơ cấu...các yếu tố đầu vào đều tác động đến các quyết định marketing của các công ty. Những tác động này cũng có thể là điều kiện thuận lợi hay bất lợi cho công ty. 

Ảnh hưởng đối với hoạt động marketing từ những tổ chức, cá nhân cung ứng các yêu tố sản xuất

Chẳng hạn do tiến bộ của công nghệ trong các ngành sản xuất và cung ứng các yếu tố đầu vào có thể tạo ra những vật liệu, năng lượng thay thế hiệu quả hơn. Đây là cơ hội tốt cho công ty. Nhưng cũng không ít trường hợp sự tăng lên của giá cả, của lãi suất hoặc gia tăng tính khan hiếm của những yếu tố này làm cho công ty phải thay đổi các quyết định marketing về sản phẩm, dịch vụ đầu ra của mình. Khi đó quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng có nguy cơ bị đe dọa. Hiện tượng tăng giá dầu lửa trên thế giới trong thời gian gần đây đang là điều bất lợi cho tất cả các công ty kinh doanh phải sử dụng sản phẩm từ dầu mỏ. 

Như vậy từ phía những nhà cung cấp luôn tiềm ẩn những nguy cơ và sự đe dọa tới các quyết định marketing và do đó tới chất lượng quan hệ giữa công ty với khách hàng

Monday, June 9, 2014

Trong kinh doanh - cạnh tranh luôn hiện hữu khiến bất cứ ai muốn thành công cũng đều phải tìm ra được hướng đi riêng có thể thỏa mãn nhu cầu của một tập hợp khách hàng nào đó thì mới có thể tồn tại và phát triển. Tuy nhiên, việc tìm ra một hướng đi riêng không phải dễ dàng gì. Đôi khi nó cần phải được tạo nên từ những lần đúc kết thất bại. 

Nhiều người do thất bại nhiều lần đã không thể tiếp tục đứng lên do gánh nặng về tài chính hoặc nhiều lý do khác. Và đó là lý do để quyển sách: Chiến lược Đại dương xanh (Blue ocean strategy) - Cuốn sách là sự đúc kết kinh nghiệm của hai tác giả W. Chan Kim và Renée Mauborgne và đã trở thành cuốn sách bán chạy nhất trên Amazon.com. nó giúp những nhà quản trị tìm cách để tạo ra những nhu cầu mới trên thị trường vốn đã cạnh tranh vô cùng khốc liệt

Cuốn sách được chia thành ba phần:

Phần đầu trình bày khái niệm then chốt của chiến lược đại dương xanh, bao gồm cả giá trị đổi mới - sự theo đuổi đồng thời của sự khác biệt và chi phí thấp, các công cụ và khuôn khổ phân tích quan trọng.

Phần thứ hai mô tả bốn nguyên tắc của màu xanh xây dựng chiến lược đại dương. Bốn nguyên tắc xây dựng giải quyết như thế nào một tổ chức có thể tạo ra đại dương xanh bằng cách nhìn qua sáu ranh giới thông thường của cạnh tranh (Sáu Đường Framework), giảm nguy cơ lập kế hoạch của họ bằng cách làm theo bốn bước hình dung chiến lược, tạo ra nhu cầu mới bằng cách mở khóa ba tầng của noncustomers và khởi động một ý tưởng đại dương xanh thương mại khả thi của việc sắp xếp tiện ích chưa từng có của một cung cấp với giá cả chiến lược và mục tiêu chi phí và bằng cách vượt qua rào cản nhận con nuôi. Cuốn sách sử dụng nhiều ví dụ các ngành công nghiệp để chứng minh làm thế nào để thoát ra khỏi (cấu trúc) tư duy chiến lược cạnh tranh truyền thống và phát triển nhu cầu và lợi nhuận cho công ty và ngành công nghiệp bằng cách sử dụng màu xanh biển (Reconstructionist) tư duy chiến lược

Phần thứ ba và cuối cùng mô tả hai nguyên tắc thực hiện quan trọng của chiến lược đại dương xanh bao gồm cả lãnh đạo đỉnh điểm và quá trình công bằng. Các nguyên tắc thực hiện là rất cần thiết cho các nhà lãnh đạo để vượt qua bốn rào cản tổ chức quan trọng mà có thể ngăn chặn ngay cả những chiến lược tốt nhất đang được thực hiện. Bốn trở ngại chính bao gồm các, tài nguyên, rào cản động lực chính trị và nhận thức ngăn chặn những người tham gia vào thực hiện chiến lược từ sự hiểu biết cần thiết để phá vỡ từ hiện trạng, tìm kiếm các nguồn lực để thực hiện các thay đổi chiến lược mới, giữ người bạn cam kết thực hiện chiến lược mới , và từ khắc phục những quyền lợi mạnh mẽ mà có thể ngăn chặn sự thay đổi
Đóng góp vào quá trình phát triển của bất kì một tổ chức, cá nhân nào không thể thiếu các yếu tố từ bên ngoài. Trong hoạt động marketing cũng như vậy. Nếu như các yếu tố ảnh hưởng xuất phát từ bên trong công ty có thể dễ dàng được điều chỉnh thì các lực lượng bên ngoài lại vừa nắm quyền chi phối vừa khiến công ty phải tự thích nghi để phù hợp với tình hình thực tế.

Chúng ta có thể kể ra một số các lực lượng bên ngoài công ty như:
- Những tổ chức, cá nhân cung ứng các yếu tố sản xuất
- Những tổ chức dịch vụ môi giới marketing
- Đối thủ cạnh tranh
- Công chúng trực tiếp
- Khách hàng


Mỗi một lực lượng có vai trò khác nhau trong chuỗi hoạt động marketing của công ty và sự linh hoạt thích ứng của công ty sẽ quyết định việc thành công hay không của các chiến dịch marketing đã được đề ra. Thực tế cho thấy rằng, các công ty của Việt Nam hiện nay thường tỏ ra phản ứng chậm chạp trước những thay đổi của yếu tố bên ngoài. Trong khi đó, các công ty nước ngoài, các tập đoàn lớn với số vốn và kinh nghiệm lâu năm của mình tỏ ra vượt trội. Họ xử lý các ảnh hưởng của lực lượng bên ngoài một cách khôn khéo, mềm dẻo và linh hoạt. 

Nghiên cứu ảnh hưởng của các lượng lượng bên ngoài công ty có ỹ nghĩa quan trọng bởi thông qua việc nghiên cứu này, phòng marketing có được cái nhìn đúng đắn về thị trường, khách hàng, khả năng nhận diện thương hiệu của người tiêu dùng từ đó đề ra được những chiến dịch marketing một các phù hợp nhất. 

Sunday, June 8, 2014

Marketing là gì ? - Cho đến nay nhiều người vẫn lầm tưởng Marketing với việc chào hàng (tiếp thị), bán hàng và các hoạt động kích thích tiêu thụ. Vì vậy, họ quan niệm marketing chẳng qua là hệ thống các biện pháp mà người bán sử dụng để cốt làm sao bán được hàng và thu được tiền về cho họ. Thậm chí, nhiều người còn đồng nhất marketing với nghề đi chào hàng, giới thiệu dùng thử hàng (nghề tiếp thị).

Marketing là gì
Marketing là gì | Định nghĩa Marketing hiện đại
Thực ra tiêu thụ và hoạt động tiếp thị chỉ là một trong những khâu của hoạt động marketing. Hơn thế nữa, đó lại không phải là khâu quan trọng nhất. Một hàng hóa kém thích hợp với đòi hỏi của người tiêu dùng, chất lượng thấp, kiểu dáng kém hấp dẫn, giá cả đắt thì dù cho người ta có tốn bao nhiêu công sức và tiền của để thuyết phục khách hàng, việc mua chúng vẫn rất hạn chế. Ngược lại, nếu như nhà kinh doanh tìm hiểu kỹ lưỡng nhu cầu của khách hàng, tạo ra những mặt hàng phù hợp với nó, quy định một mức giá thích hợp, có một phương thức phân phối hấp dẫ và kích thích tiêu thụ có hiệu quả thì chắc chắn việc bán những hàng hóa đó sẽ trở nên dễ dàng hơn. Cách làm như vậy thẻ hiện sự thực hành quan điểm marketing hiện đại vào kinh doanh. 


Marketing là quá trình làm việc với thị trưởng để thực hiện các cuộc trao đổi nhằm thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn của con người . Cũng có thể hiểu, Marketing là một dạng hoạt động của con người (bao gồm cả tổ chức) nhằm thỏa mãn các nhu cầu và mong muốn thông qua trao đổi.

Thông thường người ta cũng cho rằng marketing là công việc của người bán, nhưng hiểu một cách đầy đủ theo định nghĩa marketing hiện đại thì đôi khi cả người mua cũng phải làm marketing. Trên thị trường bên nào tích cực hơn trong việc tìm kiếm cách trao đổi với bên kia, thì bên đó thuộc về phía làm marketing

Như vậy trong bài viết này, MarketingOnline68 đã gửi đến bạn đọc một định nghĩa chuẩn xác và khoa học nhất về marketing hiện đại. Nếu bạn thấy hay thì đừng quên chia sẻ bài viết theo các link ở bên dưới nhé !

Marketing đã và đang trở thành một phần không thể thiếu trong thành công của mỗi tổ chức, doanh nghiệp nhằm hướng đến mục tiêu mở rộng khách hàng và nâng cao khả năng tiêu thụ sản phẩm. Đối với du lịch marketing đã hình thành nên một tập khái niệm và các phạm trù cần nghiên cứu riêng để nâng cao tính hiệu quả trong công tác quản lý, vận hành hoạt động du lịch. Và để có thể hiểu rõ chúng ta phải tìm hiểu một số khái niệm và định nghĩa marketing du lịch

Định nghĩa maketing du lịch là gì ? Khái niệm marketing du lịch


Khái niệm marketing du lịch
Theo cuốn sách: "Cẩm nang marketing và xúc tiến du lịch bền vững ở Việt Nam" do Fundesco biên soạn và xuất bản thì marketing du lịch là một quá trình trực tiếp cho các cơ quan, doanh nghiệp du lịch xác định khách hàng hiện tại và khách hàng tiềm năng, ảnh hưởng đến ý nguyện và sáng kiện khách hàng ở cấp độ địa phương, khu vực quốc gia và quốc tế để doanh nghiệp có khả năng thiết kế và tạo ra các sản phẩm du lịch nhằm nâng cao sự hài lòng của khách và đạt được mục tiêu đề ra

 Theo tổ chức du lịch thế giới (World Tourism Organization): "Marketing du lịch là một triết lý quản trị mà nhờ nghiên cứu, dự đoán, tuyển chọn dự trên nhu cầu của du khách. Nó có thể đem sản phẩm du lịch ra thị trường sao cho phù hợp với mục đích thu nhiều lợi nhuận cho các tổ chức du lịch đó"

Theo Robert Lanquar và Robert Hollier: "Marketing du lịch là một loạt phương pháp và kĩ thuật được hỗ trợ bằng một tinh thần đặc biệt và nhằm thỏa mãn các nhu cầu không nói ra của khách hàng, có thể là mục đích tiêu khiển hoặc những mục đích khác bao gồm công việc gia đình, công tác và họp hành"

Marketing du lịch là tiến trình nghiên cứu, phân tích những nhu cầu của khách hàng, những sản phẩm, những dịch vụ du lịch và những phương thức cung ứng, hỗ trợ để đưa khách hàng đến với những sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ đồng thời đạt được những mục tiêu của các tổ chức du lịch


Chúng ta đã tìm hiểu cơ bản về tác động của môi trường vi mô tới hoạt động marketing. và ở bài này, mình và các bạn sẽ đi sâu vào phân tích những ảnh hưởng của các lượng lượng bên trong công ty. Hiểu một cách đơn giản: chúng ta sẽ làm rõ mối quan hệ giữa các phòng ban, các bộ phận trong nội bộ của một công ty xem nó có ảnh hưởng như thế nào trong hoạt động marketing.

>> Phân tích ảnh hưởng của các lực lượng bên ngoài công ty

Liệt kê một số bộ phận điển hình trong công ty:
- Bộ phận tài chính - kế toán
- Bộ phận quản trị sản xuất
- Bộ phận quản trị nhân lực
- Bộ phận marketing
- Bộ phận nghiên cứu và phát triển (R&D)
- Ban lãnh đạo công ty

Phân tích ảnh hưởng của các lực lượng bên trong công ty

Phân tích sự ảnh hưởng qua lại lẫn nhau giữa các bộ phận
Trước hết, các quyết định marketing do bộ phận marketing trong công ty đưa ra và phải chịu sự ràng buộc của mục tiêu chiến lược, phương châm...Chúng phải trở thành những hoạt động có vai trò chính yếu trong việc quyết định sự thành bại của các mục tiêu, chiến lược và kế hoạch kinh doanh do Ban lãnh đạo tối cao đưa ra. Chỉ có như vậy các quyết định marketing mới thu hút được sự chú ý, quan tâm và ủng hộ của ban lãnh đạo công ty.

Bên cạnh đó, phòng marketing phải tranh thủ được sự ủng hộ cao nhất của các bộ phận khác trong công ty đối với các quyết định marketing của mình. Sự đồng tình ủng hộ của phòng Tài chính - kế toán đảm bảo cung ứng kịp thời và đầy đủ vốn cho việc thực hiện thành công các kế hoạch marketing và theo dõi chu đáo tình hình thu chi, nhằm giúp bộ phận marketing đánh giá được thực trạng và triển vọng của việc thực hiện những mục tiêu marketing đã đề ra.

Phòng marketing cũng phải đảm bảo giành được sự ủng hộ chắc chắn của phòng quản trị nhân lực về đội ngũ triển khai thực hiện các kế hoạch marketing, dành được sự hứng khởi của phòng nghiên cứu và triển khai trong việc giải quyết những vấn đề kỹ thuật thiết kế, chế tạo một cách có hiệu quả các sản phẩm theo đúng yêu cầu của thị trường mục tiêu và đáp ứng ý đồ định vị thị trường. 

Việc giành được sự nhiệt tình của phòng Vật tư sẽ giúp đảm bảo đủ về số lượng, đúng về chất lượng, cơ cấu, giá cả và tiến độ các yếu tố vật tư, phụ tùng cho sản xuất, sao cho bộ phận sản xuất cũng tự nguyện hòa vào dòng chảy chung của toàn công ty trong việc đảm bảo, kịp thời số lượng sản xuất ra theo yêu cầu của thị trường mục tiêu. 

Mỗi một trục trặc trong quan hệ giữa bộ phận marketing với các bộ phận trên của công ty đều có nguy cơ, đe dọa đến triển vọng thành công của các quyết định marketing. Trong điều kiện của Việt Nam hiện nay, các nhà quản trị marketing, để đạt được sự đồng thuận của các lực lượng bên trong công ty họ phải gặp hai trở ngại rất lớn:

- Một là, xã hội, kể cả những người quản lý cấp cao của công ty hoặc chưa có nhận thức đầy đủ về marketing hoặc họ không muốn đảo lộn về nhiều mặt theo yêu cầu của việc biến một công ty trở thành "công ty marketing"

- Hai là, bộ phận nhận sự marketing trong công ty chưa được định hình rõ nét.

Trong bối cảnh như vậy, các nhà quản trị marketing cần làm việc sao cho đủ sức thuyết phục để trước hết ban lãnh đạo công ty ủng hộ các quyết định marketing của mình.